Chẩn đoán và xử trí bọ cạp đốt

Đối với hầu hết các loại bọ cạp, phần lớn chỉ gây tổn thương tại chỗ, ngay sau khi bị bọ cạp đốt nạn nhân có cảm giác đau rát bỏng, sưng nề, dị cảm  tại chỗ. Thông thường các triệu chứng tự lui sau vài giờ. Nhóm bọ cạp này đại diện cho các vết châm điển hình của bọ cạp ở  Mỹ

I. ĐẠI CƯƠNG

Bọ cạp là loài chân đốt ăn thịt có 8 chân thuộc phân ngành Chelicerata, lớp Arachnida và bộ Scorpiones. Hiện nay ước tính có khoảng 2000 loài bọ cạp trong tự nhiên, phân bố khắp nơi trên thế giói.

Thân chia làm hai phần: đầu ngực (đốt thân trước) và bụng (vùng thân sau). Phần bụng bao gồm phần bụng dưới và đuôi.

Phần đuôi: gồm 6 đốt (đốt đầu tiên như đốt bụng cuối cùng). Hậu môn của bọ cạp nằm ở đốt cuối cùng, đồng thời đốt này mang nọc độc. Đốt cuối lần lượt gồm một túi chứa, một cặp tuyến độc và một mũi tiêm nọc độc.

Heterometrus spinifer

Loài Heterometrus spinifer (châu Á)

Euscorpiidae

Euscorpiidae (Phạm Đình Sắc – Việt Nam)

Bothriurid

Bothriurid sống trong môi trường lạnh (-25°C)

Hadrurus Arizonensis

Hadrurus Arizonensis, Bắc Mỹ, độc tính yếu

Nọc độc: nọc độc của đa số loài bọ cạp vô hại đối với con người, tuy nhiên nó có thể gây ra các phản ứng khác như đau, tê cứng, sưng nề, hoại tử tế bào. Tất cả các loài bọ cạp đều có độc tố thần kinh.là chlorotoxin. Thời gian bị liệt phụ thuộc vào liều lượng chất độc này được chích vào cơ thể, ngoài ra chứa một lượng nhỏ protein, natri, kali.

Ngoài ra nọc độc còn tùy theo loài: loài Hemiscorpius lepturus có nọc độc hoại tử tế bào, loài Tityus, Buthus, Androctonus và Leiurus có thể gây phù phổi, truỵ tim mạch, rối loạn đông máu, CIVD và tử vong, viêm tuỵ, suy thận đái hemoglobin và vàng da. Những ca sống hồi phục trong vòng 12-36 giờ. Nọc độc của loài C exilicauda có chứa nhiều enzym tiêu hóa  nhu Hyaluronidase, phospholipase và một số độc tố thần kinh. Những độc tố này có thể thay đổi tốc độ dòng natri dẫn đến kích thích qúa  mức ở điểm nối thần kinh cơ và hệ thần kinh tự động gây liệt.

Có khoảng 1500 loài, đều có độc. Bọ cạp không chủ động tấn công người mà do nó bị đe dọa. Là động vật hoạt động về đêm và chủ yếu vào màu hè nên tỉ lệ bị bọ cạp châm gặp nhiều vào mùa nóng và vị trí bị cắn gặp nhiều nhất là tứ chi nhưng chân bị nhiều hơn. Những loài bọ cạp nguy hiểm nhất là Androctonus australis, Leiurus quinquestriatus. Bọ cạp giết người nhiều nhất là Androctonus australis, hoặc loài bọ cạp đuôi béo Bắc Phi. Nọc độc gây chết người của  Androctonus australis bằng một nửa so với Leiurus quinquestriatus.

Loại bọ cạp  nguy hiểm  ở Mỹ là is Centruroides exilicauda. Ơ Mexico là (Centruroides spp), Brazil (Tityus spp), India (Buthus spp), Ở trung đông và bắc Mỹ đông địa trung hải là loài  (Leiurus  và Androctonus spp).

 Liều độc: mỗi lần bọ cạp châm có thế đưa toàn bộ nọc độc từ 0,1-0,6 mg hoặc không có chút nọc độc nào vào cơ thể

Thường gây nguy hiểm nhất là khi trẻ em < 10 tuổi  bị bọ cạp đốt

Mỗi năm có khoảng 2.000 người bị thiệt mạng, phải cấp cứu hay phải nhập viện vì bọ cạp tấn công

My beautiful picture

Androctonus australis

Centruroides exilicauda

Centruroides exilicauda

Leiurus quinquestriatus

Leiurus quinquestriatus

Leiurus quinquestriatus-light

Leiurus quinquestriatus phát sáng trong đêm

II. TRIỆU CHỨNG

  1. Lâm sàng

Đối với hầu hết các loại bọ cạp, phần lớn chỉ gây tổn thương tại chỗ, ngay sau khi bị châm có cảm giác đau rát bỏng, sưng nề, dị cảm  tại chỗ. Thông thường các triệu chứng tự lui sau vài giờ. Nhóm bọ cạp này đại diện cho các vết châm điển hình của bọ cạp ở  Mỹ

Đối với vết châm của loại bọ cạp nguy hiểm: ở một vài nạn nhân đặc biệt là trẻ em dưới 10 tuổi. Sau khi bị loài bọ cạp Centruroid châm xuất hiện các triệu chứng toàn thân như yếu cơ, mất ngủ, vã mồ hôi, nhìn đôi, rung giật nhãn cầu, nhãn cầu lang thang, tăng kích thích, máy cơ, người ưỡn cong, cường dương, vã mồ hôi, nói nhíu, nhịp nhanh, tăng huyết áp. Đôi khi co giật, liệt cơ và ngừng thở

– Phù phổi (do tăng tính thấm màng phế nang mao mạch)

– Truỵ tim mạch, loạn nhịp

– Rối loạn đông máu, CIVD và tử vong,

– Viêm tuỵ

– Suy thận đái hemoglobin

– Vàng da.

Những ca sống hồi phục nhanh trong vòng 12-36 giờ

Để phân biệt loài Centruroide đốt làm (“tap test”). test , gõ nhẹ lên vết đốt thường gây ra đau dữ dội

  1. Xét nghiệm

Định lượng độc tố trong máu: không làm được

Xét nghiệm: với những vết châm chỉ có dấu hiệu tại chỗ không cần làm xét nghiệm. Những trường hợp nặng cần làm công thức máu, ĐGĐ, đường máu, ure, creatini, khí mâu động mạch, bi lan đông máu

III. XỬ TRÍ

Phần  lớn bọ cap đốt đều nhẹ, chỉ cần điều trị áp  lanh tại chỗ, giảm đau nhóm không opioide, kháng histatmin là đủ. Cần nâng cao chân và bất động chi bị cắn. Nếu vẫn còn đau nhiều, cho giảm đau nhóm opioide

  1. Các biên pháp hồi sức: với trường hợp nặng đảm bảo hô hấp, thở oxy, thở máy khi cần. Khi tăng tiết dùng atropin
  2. Điều trị tăng huyết áp, nhịp nhanh
  3. Điều trị co giật nếu có. Không nên dùng quá liều an thần.
  4. Tại chỗ: rửa sạch vết thương, tiêm dư phòng uốn ván. Không được ngâm chi bị cắn vào nước lạnh, không chích rạch, không hút ở chỗ bị châm
  5. Thuốc giải độc đặc hiệu: hiện tại không có ở Mỹ
  6. Loại bỏ chất độc: không có vai trò
  7. Tăng đào thải: không có vai trò

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Richard F. Clark, MD, “Scorpions”, Poisoning & Drug Overdose
  2. TOXINZ. Scorpions”, NZ: 19.Jun.2014
  3. Bọ cạp, Wikipedia
  4. Mosche Gueron, “The cardiovascular system after scorpion envenomation. A Review 1992, Vol. 30, No. 2 , Pages 245-258
  5. Carlos Faria, Alfredo José, “ Scorpion sting-induced pulmonary oedema: Evidence of increased alveolocapillary membrane permeability”. Copyright © 1994 Published by Elsevier Ltd.

PGS. TS. Bế Hồng Thu

Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai

1 Comment on "Chẩn đoán và xử trí bọ cạp đốt"

  1. Gio toi rat dau benh vien o xa khong di dau duoc phai lam sao?

Leave a comment